Share

Ba câu chuyện của Trung tướng Phạm Hồng Cư

- Chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội một thời nay đã đi được chặng đường 55 năm vẻ vang. Hàng ngàn chứng nhân lịch sử đã chiến thắng kẻ thù và trở về sau cuộc chiến hào hùng ấy, nhưng hòa bình rồi họ lại lần lượt ra đi. Sau 55 năm còn vài trăm nhân chứng, đến 60 năm các bác liệu còn được bao nhiêu?

Hình ảnh Ba câu chuyện của Trung tướng Phạm Hồng Cư số 1
Trung tướng Phạm Hồng Cư.

Nhân dịp kỷ niệm 55 năm giải phóng Điện Biên Phủ, phóng viên đã có cuộc trò chuyện với Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày ở Điện Biên ông là Phó chính ủy Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 trấn giữ cánh đồng phía tây Điện Biên.

Ông mở lời cuộc gặp: “Đây là lời của Trung tướng Phạm Hồng Cư với ba câu chuyện về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Trong câu chuyện chiến thuật có cả giá trị chiến lược và chiến dịch”.

Câu chuyện thứ nhất: Năm ngón tay cụ Hồ

Là chuyện về chỉ đạo chiến lược và tư tưởng Hồ Chí Minh. Vào khoảng tháng 9/1953, một cuộc họp của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, họp tại nhà Chủ tịch Hồ Chí Minh ở bản Tỉn Keo, tỉnh Thái Nguyên gồm có Bác Hồ; đồng chí Trường Chinh Tổng Bí thư; đồng chí Phạm Văn Đồng Thủ tướng Chính phủ; Đại tướng Võ Nguyên Giáp Tổng Tư lệnh; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị vắng mặt do bị ốm. Cuộc họp có mời thêm đồng chí Hoàng Văn Thái là Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc họp này rất quan trọng, bàn về kế hoạch tác chiến Đông – Xuân (1953 – 1954). Đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo với Bộ Chính trị, với Bác Hồ việc người Pháp vừa cử sang Đông Dương một Tổng chỉ huy mới Hăngry Nava, một tướng tài của Pháp nhằm cứu vãn tình thế.

Tướng Nava lập kế hoạch với ý định rất lớn, trong đó phê phán các chỉ huy cũ phân tán lực lượng và chiếm đóng nhiều quá. Nava tập trung ở đồng bằng Bắc bộ một lực lượng cơ động mạnh chưa từng có ở Đông Dương và sẽ giành lại chủ động, kết thúc cuộc chiến tranh trong thế thắng lợi.

Cụ Hồ nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo rất chăm chú. Bàn tay Cụ đang đặt trên bàn bỗng giơ lên và nắm lại. Cụ nói: “Quân viễn chinh Pháp tập trung lực lượng để tạo nên sức mạnh… Không sợ! Ta buộc chúng phân tán thì sức mạnh đó sẽ không còn”. Bàn tay Cụ mở ra, mỗi ngón trỏ về một hướng.

Mấy tháng sau Bộ Tổng tư lệnh thực hiện kế hoạch nhằm những chỗ yếu của địch mà tiến công, gọi là “năm đòn tấn công chiến lược trước Điện Biên Phủ”. Đó là: Giải phóng Lai Châu (ngày 10/12/1953); tiến công chiến lược Trung Hạ Lào (từ 21/12/1953 đến 31/1/1954); tiến công chiến lược ở Thượng Lào (từ 26/1 đến 10/2/1954); tiến công chiến lược ở Bắc Tây Nguyên (từ 27/1 đến 5/2/1954) và các chiến trường sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, nam Trung Bộ, Nam Bộ.

“Năm đòn” này thể hiện tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Địch muốn tập trung ta bắt nó phân tán; địch muốn chủ động ta bắt nó phải bị động. Như bài thơ “Học đánh cờ” trong tập “Nhật ký trong tù” có những câu nổi tiếng thể hiện tư tưởng quân sự của Người: “Phải suy cho rộng, nhìn cho kỹ/ Kiên quyết không ngừng thế tiến công;/ Lạc nước hai xe đều bỏ phí,/ Gặp thời một tốt cũng thành công”.

Cũng bởi năm ngón tay của Cụ Hồ ứng với “năm đòn” ấy, nên sau này giới sử học cũng như các tướng lĩnh ngẫm lại sự trùng hợp kỳ lạ này mới thấy đây y như một câu chuyện huyền thoại về sự chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và của Bác Hồ biết tạo thời cơ để chiến thắng kẻ thù trong chiến cuộc Đông – Xuân 1953 – 1954.

Câu chuyện thứ hai: Quyết định khó khăn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Bộ Chính trị ra quyết định tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp là Tư lệnh chiến dịch, Bí thư quân ủy trực tiếp là Bí thư Đảng ủy chiến dịch, chỉ định Đảng ủy chiến dịch gồm bốn người: đồng chí Võ Nguyên Giáp là Bí thư, ba đảng ủy viên là đồng chí Hoàng Văn Thái Tổng tham mưu trưởng kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch, đồng chí Lê Liêm là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị kiêm Chủ nhiệm Chính trị chiến dịch, đồng chí Đặng Kim Giang Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần kiêm Chủ nhiệm Hậu cần chiến dịch.

Trước khi lên đường ra mặt trận, đồng chí Võ Nguyên Giáp đến chào Bác Hồ. Bác dặn: “Trận này rất quan trọng, chắc thắng thì đánh, không chắc thắng thì không đánh”. Các nhà sử học sau này bình luận, lời dặn của Bác rất có ý nghĩa bởi thời điểm lúc đó sắp họp hội nghị Geneva, nếu thắng trận này sẽ tác động lớn đến tình hình và hội nghị.

Hơn nữa, lực lượng của ta xây dựng trong những năm kháng chiến, lúc đó bước vào năm thứ tám đã được sáu Đại đoàn, trừ Đại đoàn 320 ở đồng bằng và Đại đoàn 325 ở Trung bộ, còn lại bốn Đại đoàn bộ binh 304, 308, 312, 316 tập trung hết ở Điện Biên Phủ và một Đại đoàn công pháo mới thành lập, lúc này ta được chi viện 24 khẩu pháo 105 và 24 khẩu cao xạ. Như vậy, toàn bộ chủ lực xây dựng trong tám năm kháng chiến đều dồn hết vào trận đánh này. Nếu trận này tan tác coi như hết vốn.

Lúc này Đại tướng có hỏi Bác: “Ở xa làm sao xin chỉ thị Bộ Chính trị và chỉ thị của Bác được?”. Bác trả lời: “Tướng quân tại ngoại, giao cho chú toàn quyền quyết định, thống nhất trong Đảng ủy và cố vấn rồi cứ tiến hành, báo cáo Bộ chính trị sau”.

Đại tướng lên mặt trận, gặp bộ phận chuẩn bị chiến trường trong đó có các cố vấn Trung Quốc. Lúc này, bộ phận chuẩn bị chiến trường trình lên kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh”, nghĩa là lợi dụng lúc quân địch đứng chân chưa vững dùng bốn mặt ập lại và có một mũi thọc sâu gọi là chiến thuật đánh thẳng vào tim oa tâm chiến thuật. Đại đoàn 308 đánh từ phía Tây thọc thẳng vào tim sở chỉ huy của Đờ-cát-xtơ-ri, Đại đoàn 312 đánh từ phía Bắc xuống, Đại đoàn 316 đánh từ phía Đông và Đại đoàn 304 cắt từ phía Nam.

Đại tướng thấy kế hoạch này không chắc thắng nhưng cũng chưa có lý do gì để bác bỏ nên đồng ý cho triển khai. Tổ chức cuộc họp phổ biến kế hoạch tại hang Thẩm Púa ngày 14/1/1954, Đại tướng giao nhiệm vụ cho các Đại đoàn theo kế hoạch đã nói ở trên.

Khi bắt đầu chuẩn bị, khó nhất là mở đường qua núi cao để kéo pháo và phải kéo bằng tay để đảm bảo bí mật. Suốt mười một ngày đêm suy nghĩ, theo dõi tình hình địch và tình hình ta, từ ngày 14/1 đến ngày 26/1 Đại tướng hầu như không ngủ được, liên miên suy nghĩ đến mức đầu bốc hỏa bừng bừng, làm cho đồng chí y sĩ phải buộc nắm ngải cứu lên trán Đại tướng cho nhẹ bớt.

Đại tướng quyết định họp Đảng ủy, trước đó có giao nhiệm vụ cho đồng chí Hoàng Minh Phương trưởng tổ phiên dịch của ta sang mời đồng chí Vi Quốc Thanh là trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc. Đồng chí Vi Quốc Thanh là một cán bộ lão thành cách mạng có rất nhiều kinh nghiệm và làm việc với ta với tinh thần rất thân ái.

Đồng chí Vi Quốc Thanh sang thấy sức khỏe Đại tướng như vậy thì hỏi thăm: “Trận đánh sắp tiến hành rồi sức khỏe Võ Tổng như thế nào?”, Đại tướng mới nói: “Việc tôi cần bàn với đồng chí là thế này, chúng ta có ba vấn đề chưa giải quyết được. Thứ nhất là bộ đội Việt Nam từ trước đến giờ mức tiêu diệt địch trong công sự cao nhất là một tiểu đoàn, trong khi bây giờ địch có đến 12 tiểu đoàn, 49 cứ điểm.

Thứ hai, quân ta vẫn quen đánh ban đêm trong địa hình khuất, bây giờ đánh ban ngày trên địa hình bằng phẳng là cánh đồng Mường Thanh, trong khi địch có xe tăng, máy bay, pháo binh, chúng có thể chặn mũi thọc sâu thì làm thế nào?

Thứ ba, từ trước đến giờ quân ta chưa dùng pháo binh, hiệp đồng bộ pháo lại chưa qua diễn tập. Bây giờ bắt đầu vào trận dùng bộ pháo hiệp đồng sẽ không quen, đã có Trung đoàn trưởng đề nghị trả bớt pháo vì không biết dùng thế nào”.

Ba khó khăn này là trình độ thực tế của bộ đội Việt Nam lúc bấy giờ, với thực tiễn này thì chưa thể áp dụng được cách đánh nhanh thắng nhanh. Qua 12 ngày, địch đã tăng cường không phải là lâm thời phòng ngự nữa mà đã trở thành tập đoàn cứ điểm kiên cố.

Đồng chí Vi Quốc Thanh hỏi Đại tướng: “Chúng ta phải làm như thế nào?”. Đại tướng nói: “Theo ý tôi là hoãn, thay đổi cách đánh, cho quân lui về vị trí tập kết, cho kéo pháo ra, chuẩn bị theo phương án đánh chắc tiến chắc đồng thời tiến hành một mũi nghi binh chiến lược là cho 308 sang Lào. Lúc bấy giờ năm vạn quân đã dàn trận, đạn đã lên nòng đang chờ lệnh.

Đồng chí Vi Quốc Thanh suy nghĩ một lúc rồi nói: “Tôi đồng ý với Võ Tổng”. Như vậy, đợt thuyết phục cố vấn đã là rất khó, rồi đến khi họp Đảng ủy còn khó khăn hơn, vì theo nguyên tắc tập trung dân chủ thiểu số phải phục tùng đa số. Đại tướng trình bày lại những suy nghĩ vừa rồi nhưng các đồng chí khác không đồng ý. Đồng chí Lê Liêm nói rằng “Toàn quân đã sẵn sàng vào trận, tinh thần quyết chiến quyết thắng rất cao, nay hoãn thì giải thích thế nào”.

Đồng chí chủ nhiệm Hậu cần nói: “Gạo nước chỉ chuẩn bị có ngần ấy ngày thôi, giờ hoãn thì lấy gạo đâu mà ăn”. Đồng chí Võ Nguyên Giáp thuyết phục: “Tinh thần quân đội rất quan trọng, hậu cần rất quan trọng, nhưng phải có cách đánh đúng”.

Đồng chí Hoàng Văn Thái phát biểu: “Anh Văn – bí danh của Đại tướng, nêu vấn đề cũng phải thôi, nhưng lần này ta có kinh nghiệm của bạn, có 24 khẩu pháo sẽ gây bất ngờ cho địch, 24 khẩu cao xạ để bảo vệ vùng trời thì cũng có khả năng thắng”. Thảo luận giằng co không quyết định được, cuộc họp phải tạm nghỉ.

Khi cuộc họp tiếp tục, Đại tướng có nhắc lại lời của Bác Hồ với Đảng ủy và hỏi: “Vậy xin hỏi các đồng chí nếu đánh như vừa rồi thì có chắc thắng 100% không?”. Lúc bấy giờ các vị kia mới nói “ai đảm bảo chắc thắng 100% được” và biểu quyết thống nhất cách đánh của Đại tướng. Như vậy, do Đại tướng xuất phát từ thực tiễn chứ không máy móc, giáo điều theo kinh nghiệm của bạn, kiên định mục tiêu, nhưng thay đổi cách đánh nên đã thuyết phục được Đảng ủy.

Các nhà nghiên cứu sau này cũng khẳng định: chính việc thay đổi cách đánh này là nhân tố trực tiếp dẫn đến chiến thắng Điện Biên Phủ, thể hiện sự sáng tạo, dũng cảm về trí tuệ trong điều kiện phải tôn trọng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với sự minh mẫn, tài thao lược đã trọn vẹn trách nhiệm trước toàn dân, toàn Đảng, trước Bác Hồ, trước Bộ Chính trị. Đại tướng đã dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm, quan trọng nhất là xuất phát từ thực tiễn, phát hiện ra quy luật, hành động đúng quy luật nên mới đưa chiến dịch đến thắng lợi. Bài học này không chỉ có giá trị trong chiến tranh mà còn có giá trị hiện thực đến bây giờ.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp về sau có kể lại việc này trong cuốn sách “Điện Biên Phủ - điểm hẹn lịch sử” ở chương “Quyết định khó khăn”. Và đây là quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy của Đại tướng.

Câu chuyện thứ ba: Quân lệnh như sơn


Sau khi Đảng ủy thống nhất, Đại tướng Võ Nguyên Giáp phân công đồng chí Hoàng Văn Thái ra mệnh lệnh cho các đơn vị bộ binh, Đại tướng trực tiếp ra mệnh lệnh cho pháo binh và Đại đoàn 308 là đơn vị thực hiện nhiệm vụ nghi binh chiến lược đánh sang Luông Phabăng.

Đại tướng gọi điện cho đồng chí Phạm Ngọc Mậu - là Chính ủy Đại đoàn công pháo 351 nói rằng: “Quyết tâm tiêu diệt Trần Đình – bí danh của Điện Biên Phủ, không thay đổi nhưng cách đánh thay đổi. Nay kéo pháo ra, không để trận địa pháo dã chiến như cũ mà phải làm trận địa khuất, khoét núi đặt pháo ở sườn dốc Điện Biên Phủ.

Tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ Pirốt không thể ngờ là Việt Minh đặt pháo ngay sườn dốc đối diện với thung lũng Mường Thanh, để trong hầm kéo ra bắn xong lại kéo vào. Ngay trận đầu pháo binh ta ra quân đã phá hoại được rất nhiều pháo binh, máy bay của địch, nhiều chỉ huy địch trúng pháo mà chết; trong đó có Quan Năm Gốtsê và Quan Tư Pêgô chỉ huy Bêatơrít tức Him Lam.

Về chuyện đánh sang Lào, lúc bấy giờ Trung đoàn 36 chúng tôi là một trong những Trung đoàn của Đại đoàn 308 đã sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị theo cách đánh nhanh thắng nhanh vào trung tâm Mường Thanh thì nhận được lệnh của Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ: “Trung đoàn 36 thay đổi nhiệm vụ, lập tức chuyển hướng đánh về phía Luông Phabăng”.

Chúng tôi không hiểu ra sao, nhưng các đơn vị chủ lực đều đã được rèn luyện trong tinh thần quân lệnh như sơn, không hiểu thì sau sẽ hiểu còn lúc đó kiên quyết thi hành mệnh lệnh. Có câu hát rất hay của những người chiến sĩ “Ta tin ở ta, ta tin ở trên, nhất định giặc thua”. Lúc này hoàn cảnh rất gian khó, địch tình, địa hình chưa biết. Trong tay chỉ có một bản đồ tỷ lệ 1/100.000 và trên vai mỗi người không hơn năm lạng gạo. Nhưng tất cả đều nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh.

Đại tướng ra lệnh lúc 14 giờ 30 phút, thì 16 giờ xuất phát. Đại đoàn chia làm hai cánh quân, một cánh Trung đoàn 36 đi trước, Trung đoàn 88 giúp bạn kéo pháo nên đi sau hướng về Luông Phabăng. Một cánh là Trung đoàn 102 do Đại đoàn phó Cao Văn Khánh dẫn đầu. Sau mười ngày tiến quân đại đoàn 308 đã giải phóng toàn bộ lưu vực sông Nậm Hu, tiến sát Luông Phabăng thì được lệnh dừng lại lập tức quay về Điện Biên Phủ.

Câu chuyện quân lệnh như sơn là như vậy, cũng là bài học cho toàn quân bây giờ trong cuộc luyện quân phải luôn nhớ rằng đã là quân đội cách mạng thì từ trên xuống dưới phải vì nước vì dân, “ta tin ở ta, ta tin ở trên” và dân chủ phải đi đôi với kỷ luật.

Theo Vietnam+

Hình ảnh Ba câu chuyện của Trung tướng Phạm Hồng Cư số 2

Theo www.vtc.vn


Video có thể bạn quan tâm


Từ khóa bài viết:

"Ba câu chuyện của Trung tướng Phạm Hồng Cư": , , , , , , , , , , ,

Tin cùng chuyên mục Tin tức >>Xem thêm
Đời sống pháp luật
Link Sopcast video bong da , video ban thang