Share

Quy định về cán bộ, công chức

- Chuyên mục

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII thông qua gồm 10 Chương, 87 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2010. Để triển khai và thực hiện, đến nay Chính phủ đã ban hành 12 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật  này. Dưới đây là những quy định cơ bản về nội dung quản lý cán bộ, công chức được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật


Đối tượng là công chức

 Nghị định số: 06/2010/NĐ-CPngày 25/01/2010 của Chính phủ về việc quy định những người là công chức. Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 15/3/2010. Theo đó, Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị định quy định cụ thể về các nhóm đối tượng công chức gồm: Công chức trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam; công chức trong các cơ quan Nhà nước; công chức trong hệ thống Tòa án -Viện Kiểm sát. Cũng theo Nghị định này, công chức được cấp có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước luân chuyển giữ các chức vụ chủ chốt tại tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp... do các tổ chức đó trả lương.

 Ngoài Nghị định 06, Chính Phủ còn ban hành Nghị định số: 112/2011/NĐ-CP quy định công chức xã, phường, thị trấn. Nghị định này quy định cụ thể về: tiêu chuẩn; tuyển dụng; điều động, tiếp nhận, trình tự và thủ tục đánh giá; thôi việc và thủ tục nghỉ hưu; xử lý kỷ luật; quản lý công chức xã, phường, thị trấn.

Hình ảnh Quy định về cán bộ, công chức số 1

Ảnh minh họa (internet)

Đào tạo và bồi dưỡng công chức

Các quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức quy định tại Nghị định số: 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2010. Nghị định này áp dụng đối với công chức quy định tại Nghị định số: 06/2010/NĐ-CP ngày 25/02/2010 của Chính phủ và công chức cấp xã quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số: 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ. Mục tiêu chính của việc đào tạo, bồi dưỡng công chức là để trang bị kiến thức, kỹ năng và phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ, góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại. Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức gồm có: tập trung, bán tập trung, vừa làm vừa học và từ xa. Nghị định này quy định 04 điều kiện để công chức được cử đi đào tạo sau đại học: có thời gian công tác từ đủ 05 năm trở lên; chuyên ngành đào tạo phù hợp với vị trí việc làm; không quá 40 tuổi tính từ thời điểm được cử đi đào tạo và có cam kết tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, công vụ sau khi hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian ít nhất gấp 3 lần thời gian đào tạo. Công chức được cử đi đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học khi cơ quan, đơn vị được tổ chức, sắp xếp lại hoặc công chức đã được bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ lãnh đạo mà chưa đáp ứng tiêu chuẩn trình độ đào tạo theo quy định. Công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng trong nước được tính thời gian đào tạo, bồi dưỡng vào thời gian công tác liên tục và được hưởng nguyên lương, phụ cấp trong thời gian này; công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài chỉ được tính thời gian đào tạo, bồi dưỡng vào thời gian công tác liên tục.

Xử lý kỷ luật đối với công chức.

Được quy định tại Nghị định số: 34/2011/NĐ-CP. Nghị định này quy định về thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật; việc áp dụng hình thức kỷ luật; thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với công chức có hành vi vi phạm pháp luật.

Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 05/7/2011, áp dụng đối với công chức quy định tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức và bãi bỏ những quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức tại Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức; bãi bỏ những quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức tại Nghị định số: 103/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Nghị định số: 107/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham

Một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã

Về xếp lương đối với cán bộ cấp xã, Nghị định số: 92/2009/NĐ-CP tách riêng mức lương đối với cán bộ đã tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn và cán bộ chưa qua đào tạo. Cụ thể, cán bộ cấp xã có trình độ sơ cấp hoặc chưa đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện xếp lương chức vụ theo hệ số lương từ 1,75 - 2,35 (bậc 1). Nếu có thời gian hưởng lương bậc 1 là 5 năm, hoàn thành nhiệm vụ, không bị kỷ luật thì được xếp lương lên bậc 2 với hệ số lương từ 2,25 - 2,85 (tùy theo chức vụ đảm nhiệm). Cán bộ cấp xã đã tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thực hiện xếp lương như công chức hành chính; ngoài ra, còn được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo so với mức lương tối thiểu chung từ 0,15 - 0,3 (tùy theo chức vụ) và được thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số: 204/2004/NĐ-CP ngày 14/10/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Ngoài những Nghị định kể trên, Chính Phủ cũng ban hành một số Nghị định liên quan đến quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức (tại Nghị định số: 46/2010/NĐ-CP), về chế độ, chính sách đối với cán bộ không đủ tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội(tại Nghị định số: 67/2010/NĐ-CP)... nhằm hoàn thiện hơn cơ chế, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cơ sở nói riêng trong giai đoạn hiện nay./.

Theo truongchinhtriyenbai.gov.vn


Nguồn : Tin Mới / Nguoiduatin.vn

Từ khóa bài viết:

"Quy định về cán bộ, công chức":

Đời sống pháp luật
Link Sopcast video bong da , video ban thang