Chuyện ít biết về một ông vua Trung Quốc có biệt danh là "vô lại"

Trong lịch sử, những ông vua bất tài, hôn quân bạo chúa có không ít, nhưng một vị vua mà bị mang biệt danh là “vô lại” thì chỉ có Văn Hiến vương Cao Tòng Hối.

Trong lịch sử, những ông vua bất tài, hôn quân bạo chúa có không ít, nhưng một vị vua mà bị mang biệt danh là “vô lại” thì chỉ có Văn Hiến vương Cao Tòng Hối.

Thân thế vị vua may mắn có mặt trên đời

Văn Hiến vương Cao Tòng Hối là vị vua thứ hai của nước Nam Bình, một quốc gia thời Ngũ đại Thập quốc (907-979). Trong số các nước thời loạn lạc này, Nam Bình ít được nhắc đến nên các đời vua của nó cũng không mấy người được sử sách ghi chép tường tận, cụ thể.

Nam Bình (còn gọi là Kinh Nam, địa bàn chính thuộc tỉnh Hồ Nam ngày nay) là một trong 10 chính quyền cát cứ sau khi triều Đường tan rã, do Cao Quý Hưng sáng lập với lãnh thổ nhỏ chỉ có 3 châu (Cựu Châu, Hiệp Châu và Kinh Châu), đất hẹp quân yếu nên lép vế với các nước khác.

Chính vì biết thực lực của mình, ngay từ khi lên ngôi, Cao Quý Hưng chỉ dám xưng vương (Võ Tín vương) và áp dụng chính sách ngoại giao mềm dẻo, cống nạp xưng thần với các nước xung quanh như Thục, Ngô, Sở…

Chuyện ít biết về một ông vua Trung Quốc có biệt danh là 'vô lại' 1

Tranh vẽ chân dung Cao Tòng Hối. Ảnh minh họa: Baike

Năm Mậu Tý (928) Võ Tín vương Cao Quý Hưng mắc bệnh chết, thọ 71 tuổi, con trai cả là Cao Tòng Hối kế vị, vẫn chỉ xưng vương (Văn Hiến vương). Vị vua này lẽ ra không có mặt trên cuộc đời, nhưng vì một chút nhân tâm trỗi dậy của người cha mà hai mẹ con Cao Tòng Hối được sống.

Chuyện kể rằng khi còn là viên quan giữ chức Phòng ngự sứ Dĩnh Châu, trong một trận đánh Cao Quý Hưng thua trận dẫn theo người vợ tên là Trương thị đang mang thai tháng thứ 8 bỏ chạy.

Hai người chạy mãi vào một vùng núi thì dừng lại nghỉ, trong khi người vợ thiếp đi vì mệt mỏi, Cao Quý Hưng cảm thấy bế tắc, mấy lần rút kiếm định giết vợ nhưng cuối cùng thở dài rồi bỏ ý định tàn ác đó.

Tháng 5 năm Tân Hợi (891) Trương thị sinh một con trai được đặt tên là Cao Tòng Hối, sau này có tên tự là Tuân Thánh.

Trở mặt như trở bàn tay

Cao Tòng Hối được đánh giá là kẻ ranh mãnh, láu cá, sau khi lên ngôi tiếp tục chính sách ngoại giao “lựa gió bẻ buồm”. Sử chép rằng từ khi Cao Tòng Hối chấp chính thì “Tấn, Đường, Khiết Đan, Hán chiếm cứ Trung nguyên; Nam Hán, Ngô, Thục đều xưng đế, Tòng Hối vì lợi mà xưng thần với tất cả” (Cựu Ngũ đại sử).

Vì chấp nhận ở vai kẻ dưới nên Cao Tòng Hối trên danh nghĩa chỉ là một quan chức của các quốc gia kia, thí dụ như lần lượt nhận các chức Cung phụng quan, Yên Bí khố sứ cho đến chức Hành quân tư mã, Trung nghĩa Tiết độ sứ của nhà Hậu Lương.

Rồi lại nhận chức Bột Hải vương, tiếp đó là Nam Bình vương do triều Hậu Đường ban cho. Chưa hết, Cao Tòng Hối chẳng kể thân sơ, cứ được phong tước vị là nhận tất nhưng khi những đòi hỏi của mình không được đáp ứng thì lập tức trở mặt ngay lập tức.

Chủ trương của Cao Tòng Hối là xưng thần với các nước để cầu sự bình yên, nhưng không chỉ có thế, xưng thần còn mục đích mưu lợi khi xin tiền bạc, của cải thậm chí còn trơ trẽn xin cả đất đai lãnh thổ.

Tháng 2 năm Đinh Mùi (947), khi nghe tin ở phía Bắc, nhà Hậu Tấn bị Khiết Đan diệt, Tiết độ sứ Hà Đông là Lưu Tri Viễn dấy quân đánh đuổi Khiết Đan, xưng đế, lập lên nhà Hậu Hán, Cao Tòng Hối liền sai sứ thần mang lễ vật theo đường biển đến xưng thần để tỏ lòng trung thành.

Tuy nhiên, kèm theo việc xưng thần đó là đòi hỏi vua Hậu Hán “ban” cho đất đai ở Dĩnh Châu. Hậu Hán Cao Tổ Lưu Tri Viễn vốn đã nghe “danh tiếng” về Cao Tòng Hối nên vờ chấp thuận, lấy cớ là mới lập nước, chờ tình hình ổn định sẽ tính đến chuyện “ban thưởng”.

Thế nhưng chờ mãi không thấy Hậu Hán nhớ đến lời hứa hẹn kia, Cao Tòng Hối liền quay ngoắt thái độ, tuyên bố không xưng thần, cắt đứt mọi quan hệ với Hậu Hán, sau đó ve vãn các nước mới lập là Mân, Nam Hán, Nam Đường…

Vì sao bị mang tiếng là ông vua vô lại?

Bị đánh giá là một vị vua bất tài, không lập được công trạng, thành tích gì trong quản lý, điều hành đất nước nhưng nhờ kế sách xưng thần để cầu an nên nhờ đó Cao Tòng Hối ở ngôi vị được 19 năm, tình hình trong nước ít có biến động.

Nếu chỉ bất tài thôi thì không có gì đáng nói thêm về Cao Tòng Hối nhưng ông vua này còn bị gọi là kẻ “vô lại”. Theo sách Tân Ngũ đại sử (mục Nam Bình thế gia) có giải thích về từ vô lại như sau: “Tục ngữ gọi bọn trộm cắp vô liêm sỉ là vô lại”.

Ở bậc quân vương tôn quý như Cao Tòng Hối vì sao lại bị coi là vô lại, không khác gì đám trộm cắp ở đáy xã hội? Điều này có nguyên do của nó.

Số là trong các nước xưng hùng thời bấy giờ, Hậu Lương có thế lực mạnh nhất nên được các nước khác tôn làm minh chủ, hàng năm cống nộp của cải cho Hậu Lương.

Chuyện ít biết về một ông vua Trung Quốc có biệt danh là 'vô lại' 2

Đoàn sứ thần đi cống lễ. Ảnh: Wikipedia

Vì bị nước Ngô cản trở do có thù với Hậu Lương nên sứ thần nhiều nước khi đến Hậu Lương thường đi qua Nam Bình và tình huống hài hước đã xảy ra.

Cao Tòng Hối có sở thích quái gở là bắt giữ sứ giả các nước khi đi qua địa phận của mình, khi công khai, khi ngấm ngầm nhưng đến lúc các nước có phản kháng, ông ta liền thả sứ giả ra mà chẳng thấy hổ thẹn về hành động của mình.

Thế nhưng điều này xảy ra không nhiều, bởi Cao Tòng Hối nghĩ ra một cách kiếm lợi khác hơn là “đùa giỡn” với các sứ giả mà chẳng đem lại bổng lộc gì.

Cách mà Cao Tòng Hối kiếm chác như sau, lần nào cũng vậy, mỗi khi có đoàn vận chuyển lễ vật của các nước đi qua, Cao Tòng Hối đều sai người đem rượu ngon, thịt béo ra khoản đãi no say rồi mặt khác sai quân lính cải trang thành các đám trộm cướp, thổ phỉ ra cướp bóc.

Thế là một phần đáng kể vải vóc, lụa là, vàng ròng, bạc trắng… rơi vào tay Cao Tòng Hối. Khi thấy tình trạng cướp bóc xảy ra liên tục, các nước lên tiếng trách cứ thì triều đình Nam Bình lập tức sai quan quân đi tiễu phạt, tổ chức “vây quét sào huyệt” của bọn “cướp” rồi lấy một phần nhỏ trong số của cải ăn cướp đem trả lại.

Ban đầu trò khôn vặt của Cao Tòng Hối qua mặt được thiên hạ, nhưng về sau “ăn vụng nhọ mép” là chuyện khó thể giấu được mãi, thế mà Cao Tòng Hối không hề biết ngượng. Dần dà quân vương của các nước đều khinh thường nhân cách, đạo đức của Cao Tòng Hối và gọi ông ta bằng biệt danh “Cao vô lại”.

Tháng 10 năm Mậu Thân (948) ông vua “Cao vô lại” lâm bệnh rồi ốm chết tại Giang Lăng (nay thuộc Long Sơn, huyện Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc), thọ 58 tuổi.

Tin Liên Quan
Bạn Có Thể Quan Tâm
Tin Đọc Nhiều
Cùng chuyên mục