Trang chủ » Kinh Doanh
Thứ tư, 06/06/2012 16:06 (GMT 7)

Hơn 410.000 tỷ nợ của DNNN: Thực hư nợ xấu, giải cứu cách nào?

Tính đến tháng 9/2011, tổng số nợ của các DNNN tại các ngân hàng lên đến trên 415.000 tỉ đồng, tương đương 16,9\% tổng dư nợ tín dụng. Bao nhiêu phần trăm trong con số dư nợ nói trên rơi vào nợ xấu là điều rất khó nói.

Tính đến tháng 9/2011, tổng số nợ của các DNNN tại các ngân hàng lên đến trên 415.000 tỉ đồng, tương đương 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Bao nhiêu phần trăm trong con số dư nợ nói trên rơi vào nợ xấu là điều rất khó nói.

Một trong những vấn đề nổi cộm của ngành ngân hàng VN từ trước đến nay, đó chính là nợ xấu – hệ quả cơ bản của việc tăng trưởng tín dụng cao. Trong đó, đáng chú ý là sự khác biệt trong cách phân loại nợ theo chuẩn VN (VAS) và theo chuẩn quốc tế  (IAS) và sự gia tăng nợ xấu của toàn hệ thống trong thời gian từ năm 2008 trở lại đây.
 
Tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng từ năm 2002 - T6/2011 (nguồn VCBS, SBV)

Năm 2007, nợ xấu của hệ thống NH ở mức 2,0%. Các năm sau đó, con số này đã tăng lên và tỉ lệ nợ xấu lần lượt qua cùng kỳ các năm là: 2008: 3,5%, 2009: 2,2%, 2010: 2,47%, 2011: 3,3%.

Nợ xấu chưa phản ánh thực chất khoản nợ

Đây là tỉ lệ nợ xấu được cho là có sự khác biệt so với con số mà các tổ chức quốc tế đã thống kê. Chẳng hạn như năm 2011, khi nợ xấu toàn ngành được cho chỉ khoảng hơn 3% bao gồm cả nợ xấu của Vinashin thì Fitch Ratings – hãng đánh giá tín nhiệm quốc tế lại cho rằng con số này có thể lên tới 13%. Nguyên nhân cơ bản của sự chênh lệch này chính là sự khác biệt trong việc phân loại nợ theo chuẩn VN (VAS) và chuẩn quốc tế (IAS) khi hầu hết các NHTM tại VN hiện nay vẫn phân loại nợ dựa vào định lượng mà thiếu đi phần định tính như tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh của DN. Điều này dẫn đến việc phân loại nợ không phản ánh thực chất khoản nợ. Đồng thời, các NH chỉ  xếp phần nợ đến hạn không trả được vào nợ  xấu, trong khi phần còn lại của khoản nợ  vẫn là nợ  đủ  tiêu chuẩn. Trong khi đó, theo IAS, nếu phần nợ đến hạn không trả được thì toàn bộ khoản nợ phải được xếp vào nợ xấu. Ngoài ra, theo nhận định của Phòng phân tích CTCK VCBS, một số NH VN còn biến nghiệp vụ gia hạn nợ, vốn là một nghiệp vụ bình thường của NH, thành một hình thức để giảm tỉ lệ nợ xấu của mình do nợ gia hạn không được tính vào nợ  xấu. Đồng thời, không ít ngân hàng đã hạn chế  phân loại nợ  xuống nhóm 3 - 5 để  tránh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, tránh ảnh hưởng đến lợi nhuận của mình. Kết quả là sự chênh lệch giữa phân loại nợ xấu theo VAS và IAS ngày càng lớn.

Cũng theo VCBS, sở dĩ có rất ít NH áp dụng phân loại nợ định tính do còn nhiều bất cập, mặc dù NHNN đã đưa ra quy định về việc phân loại nợ theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, trong đó bao gồm cả  phân loại theo định lượng (Điều 6) và định tính (Điều 7), tính đến thời điểm hiện tại, chỉ  có 3 NH tại VN đã thực hiện việc phân loại nợ định tính theo Điều 7 là BIDV, Agribank và VCB. Nguyên nhân chủ  yếu là do: (1) Các NH phải xây dựng được hệ  thống xếp hạng tín dụng nội bộ để áp dụng phương pháp phân loại này; (2) Phân loại nợ theo định tính sẽ làm tỉ lệ nợ xấu cao gấp 2 –  3 lần so với định lượng; và (3) Bản thân việc phân loại nợ theo định tính cũng gặp phải nhiều điểm bất cập.

Tăng trưởng tín dụng nóng và quản lý tín dụng không hiệu quả được cho là nguyên  nhân chính dẫn đến sự gia tăng của nợ  xấu trong thời gian qua. Song song, việc các khoản vay thương mại chủ yếu được thế chấp bằng bất động sản (BĐS) và thị trường BĐS đã đóng băng trong suốt một thời gian dài, kèm theo đó là tình trạng khó khăn trong kinh doanh ở nhiều DN tư nhân làm cho nguy cơ về nợ khó đòi đã tăng mạnh từ năm 2011 cho đến nay và có khả năng sẽ còn gia tăng trong thời gian tới. Tình trạng thiếu minh bạch trong báo cáo về nợ xấu (non-performing loans, hay NPL) và sự lạm dụng tín dụng của các Tập đoàn DN nhà nước, Tổng Cty để đầu tư dàn trải trong thời gian qua cũng khiến cho vấn đề này càng trở nên khó kiểm soát hơn.

Bao nhiêu phần trăm nợ xấu ?

Theo Đề án tái cấu trúc DNNN vừa được Bộ Tài chính trình Chính phủ, tính đến tháng 9/2011, tổng số nợ của các DNNN tại các ngân hàng lên đến trên 415.000 tỉ đồng, tương đương 16,9% tổng dư nợ tín dụng. Bao nhiêu phần trăm trong con số dư nợ nói trên rơi vào nợ xấu là điều rất khó nói.

Ở thời điểm cuối năm 2011, ông Deepak Mishra – kinh tế trưởng ngân hàng thế giới cho rằng thực tế các DNNN đang chiếm tới 60% tín dụng của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Theo đó, mức nợ của các DNNN đang chiếm tới 70% nợ xấu của các ngân hàng. Trong tổng số nợ 415.000 tỉ đồng này, chiếm hơn một nửa số tiền là khoản vay của các tập đoàn, tổng Cty như Tập đoàn Dầu khí VN: 72.300 tỉ đồng, Tập đoàn Điện lực VN: 62.800 tỉ đồng, Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản VN: 20.500 tỉ đồng, Vinashin: 19.600 tỉ đồng. Và theo Bộ Tài chính thì có đến 30/85 tập đoàn và tổng Cty có tỉ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu trên ba lần, đặc biệt có 7 tập đoàn và tổng Cty có tỉ số D/E (Dept Equity Ratio) trên 10 lần. Một tỷ số nợ… ngoài sức tưởng tượng bởi nếu tính theo nguyên lý thông thường thì cần D/E lớn hơn 1 là DN đã phải đối mặt với những rủi ro tín dụng khó lường.

Cơ cấu và xử lý

Mới đây nhất, khi dư luận chưa kịp “hạ hoả” bởi những con số thua lỗ  hàng nghìn tỉ đồng ở Tổng Cty Hàng Hải Vinalines thì những người dân nộp thuế lại một phen “sốt vó” với thông tin Bộ Xây dựng ra tay cứu nợ gần 500 tỉ đồng cho Tập đoàn Sông Đà (Vinaconex) bằng đề xuất lên Bộ Tài Chính và trình Thủ tướng Chính phủ để tổ chức này được vay từ Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài Bộ Tài chính và trả nợ Ngân hàng nước ngoài, mà nguyên do khiến Tập đoàn này mất cân đối vốn được giải thích là vì đã dùng số vốn vay nợ nước ngoài cho vay lại một Cty thành viên. Nếu xét theo Thông tư 54/2009/TT-BTC của Bộ Tài chính và hướng dẫn lập, sử dụng và quản lý Quỹ tích luỹ trả nợ nước ngoài thì đề xuất này hoàn toàn không có gì trái ngược quy định; và Tập đoàn Vinaconex cũng có quyền “trông vào” Quỹ tích luỹ trả nợ nước ngoài để ứng trả cho dự án vay có bảo lãnh của Chính phủ.

Tuy nhiên, vẫn có không ít ý kiến đã cho rằng, nếu tất cả các Tập đoàn, TCty nhà nước đều… noi gương Vinaconex và “nhìn vào” Quỹ tích luỹ trả nợ nước ngoài để trả các khoản nợ khủng hiện nay, và cộng với cung cách làm ăn thiếu tính toán, “ỷ lại” một cái phao trả nợ khi khẩn cấp như vậy, chẳng chóng thì chầy Quỹ tích luỹ sẽ cạn nguồn dẫn đến Ngân sách nhà nước sẽ phải ứng vượt trên giới hạn bội chi cho phép trong năm để hỗ trợ nguồn cho Quỹ. Trong khi, cũng theo ý kiến của một số chuyên gia thì với tình trạng nợ nần chồng chất và làm ăn liên tục thua lỗ của một số DNNN, nếu Bộ Tài chính thu xếp ứng nguồn Ngân sách nhà nước cho Quỹ, hoặc Quỹ vẫn còn nguồn dồi dào để ứng cho vay trả nợ cho các DNNN, lại cũng chưa biết khi nào thì Quỹ tích luỹ - Bộ Tài chính có thể thu lại được các khoản đã ứng để hoàn trả Ngân sách nhà nước theo quy định.

Trong số 10 ngân hàng cho DN Nhà nước vay nhiều nhất hiện nay, đứng đầu là 4 NH quốc doanh Vietinbank, BIDV, Vietcombank và Agribank với số dư nợ đang cho các DNNN vay đạt 277.763 tỉ đồng, chiếm 67% tổng dư nợ của cả hệ thống ngân hàng. Hai trong số 4 ngân hàng này đã có mức nợ xấu cao hơn mức bình quân của toàn ngành là 3,3%/tổng dư nợ, cụ thể  nợ xấu của Agribank năm 2011 là 6,67% và Vietcombank là 3,47%. Các NH này đều đang trong quá trình nỗ lực để cải thiện tỉ lệ nợ xấu. Vấn đề là với khả năng nợ xấu đang gia tăng liên hoàn trong toàn ngành và một khi các NH cũng đang trong tiến trình thực thi phân loại nợ xấu theo tiêu chuẩn IAS, không ít dự báo vẫn đưa ra khả năng tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm 2012 sẽ không dừng ở những mức đã công bố.

Nguồn nào để cơ cấu nợ và xử lý nợ xấu này? Trước mắt, có thể trông vào tài lực nhóm G14, với cơ chế hoạt động mua bán nợ lòng vòng và cấn trừ nợ, để xử lý được các khoản nợ xấu trong hệ thống hay không? Đây vẫn là một câu hỏi không dễ tìm thấy đáp án chính xác trong lúc này.

100 nghìn tỉ đồng mua lại nợ ngân hàng

Để giải bài toán nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, NHNN dự kiến thành lập Cty mua bán nợ với số nợ mua có thể lên tới 100 nghìn tỷ đồng. Mục đích của giải pháp này nhằm lành mạnh hóa bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại cũng như của DN và nhờ đó, ngân hàng sẽ đẩy mạnh tín dụng vào nền kinh tế, tháo gỡ sự ngưng trệ lưu chuyển dòng vốn giữa ngân hàng và DN.

Hiện giải pháp đang tính toán này chưa có các thông tin cụ thể và chính thức về hướng triển khai, hoặc tính khả thi của nó. Theo đó, một số câu hỏi cơ bản được đặt ra: nguồn vốn sẽ lấy ở đâu khi quy mô mua lại có thể lên tới 100 nghìn tỉ đồng; việc định giá các khoản nợ để mua lại thực hiện như thế nào, theo chuẩn nào…?

Có ý kiến cho rằng, Chính phủ nhiều khả năng sẽ không đưa một khoản vốn lớn như trên vào Cty mua bán nợ dưới dạng vốn chủ sở hữu; mà nhiều khả năng lượng vốn chủ sở hữu sẽ ít hơn nhiều con số 100.000 tỉ đồng và Cty mua bán nợ sẽ huy động vốn dài hạn (có thể thông qua phát hành trái phiếu kỳ hạn 5 - 10 năm) để huy động đủ số vốn 100.000 tỉ đồng.

Đề xuất trên mới chỉ ở giai đoạn lấy ý kiến từ các ngân hàng. Con số đề xuất xấp xỉ 4,5% tổng dư nợ trong ngành ngân hàng và do đó đây mới chỉ được coi là bước khởi đầu.

L.Mỹ

Nguồn: dddn.com.vn
Cùng chuyên mục