Trang chủ » Pháp luật » Vụ án
Thứ tư, 06/05/2015 15:12 (GMT 7)

Trong vòng vây, sát nhân quay sang giết đồng bọn để... "thí tốt"

Một ngày một đêm trôi qua, từ lãnh đạo, công an, xã đội đến du kích… đều thức trắng, căng mình trực tại các điểm chốt chặn, đề phòng nhóm hung thủ quay lại giết hại bà con.

Một ngày một đêm trôi qua, từ lãnh đạo, công an, xã đội đến du kích… đều thức trắng, căng mình trực tại các điểm chốt chặn, đề phòng nhóm hung thủ quay lại giết hại bà con.

Chân dung tên sát nhân

Không ngoài dự đoán, rạng sáng ngày 21/1/1980, Minh cùng đồng bọn rời núi đi vào làng tiếp tục cướp tài sản. Để đối phó Minh cùng đồng bọn không hề dễ. Minh khôn ngoan xẻ đường để không đụng với các vị trí có lực lượng canh giữ.

Sau đó 4 đối tượng mang theo 4 cây súng xông thẳng vào nhà bà Tăng Thị Xoa (ngụ thôn 5) uy hiếp để cạy tủ cướp 1 chỉ vàng, 100 đồng, 1 quần tây, 1 cây bút chì rồi lên núi “Hổ Trâu” (quả núi bên cạnh núi Bằng Trĩ) bàn kế hoạch hành động tiếp.

Tối cùng ngày, Dũng, Luyến mang vàng về cho vợ Dũng, đổi lấy lương thực đưa lên núi. Khi đi, chúng phát hiện nhóm du kích của xã gồm 5 đồng chí: Đặng Văn Hiệp, Tân Định, Nguyễn Văn Mười, Tô Văn Bình, Nguyễn Văn Phẩm (đều ngụ thôn 1), nằm mai phục nên bắn chết anh Mười, Bình và Phẩm. Anh Hiệp, anh Định bị thương. Kết thúc ngày thứ 3 kể từ khi nhóm cướp nổ súng, số người chết đã tăng lên thành 11.

Ngoài tội ác đã gây ra, trong khoảng thời gian ẩn náu, nhóm Minh “bớt” còn viết tờ rơi tự xưng “Mặt trận trung trực và lực lượng yêu nước” kêu gọi người dân “nổi dậy chống cách mạng, cướp chính quyền, đánh chiếm công an huyện Quế Sơn, giết cán bộ”.

Nhận thấy tính chất vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, ngay khi nhận được tin, lãnh đạo tỉnh chỉ đạo lực lượng công an và Tỉnh đội phối hợp với huyện Quế Sơn, xã Quế Phước truy bắt bằng được nhóm bạo loạn, giết người. Trực tiếp Trưởng và Phó giám đốc Ty Công an (nay là Sở Công an) chỉ huy cùng gần 100 chiến sĩ lên đường.

Trong vòng vây, sát nhân quay sang giết đồng bọn để...
Ông Hai, con của nạn nhân Phạm Tảo.

Đại tá Nguyễn Thảnh (nay là Trưởng phòng Quản lý hồ sơ Công an TP. Đà Nẵng) cho biết, cảnh sát phải đi xe rồi vượt sông bằng ca nô, mới tiếp cận hiện trường.

Trong lúc nhận định lại tình hình, nhân thân Minh “bớt” đồng thời được lực lượng chức năng mang ra phân tích kỹ. Minh có 3 người em cùng mẹ khác cha. Trận lụt năm 1964, hai người em và mẹ Minh bị trôi chết, cha dượng và 1 em trai được dân làng cứu sống. Riêng Minh đi học tại trường Cao đài ở Tam Kỳ (Quảng Nam) nên không hề hấn gì.

Minh theo hết lớp 9 rồi về nhà chăn trâu. Một thời gian, Minh đi lính nhảy dù Sài Gòn trong quân đội chế độ cũ. Đặc biệt, mãi cho đến khi hòa bình lập lại, Minh “bớt” vẫn khiến dân làng khiếp vía khi đeo lên cổ lủng lẳng nhiều chiếc tai người phơi khô. Như lời Minh từng tuyên bố, đeo tai người để “ngủ khỏi giật mình” đồng thời “đánh bóng tên tuổi”.

Sau năm 1975, Minh bị đưa đi cải tạo, về lại địa phương, Minh làm nông nghiệp, lấy vợ và có hai con. Trở lại với án mạng, khi giết chết tổng cộng 11 người, Minh cướp được 7 cây súng.

Theo Ban chỉ huy cuộc vây bắt đánh giá, vị trí đối tượng trú ngụ thuộc 3 dãy núi kề cận, địa hình hết sức phức tạp; lực lượng đánh án phải dùng bản đồ để định vị mới mong tường tận từng vị trí ngọn đồi, khe suối.

Trong khi đó, Minh có kinh nghiệm trong chiến đấu, am hiểu địa hình, bắn tỉa tốt, đang hung hăng, rất nguy hiểm. Đêm thứ 3,4,5 trôi qua căng thẳng, các lực lượng không rời vị trí, mặc cho trời mùa đông mưa phùn rất lạnh. Ông Đỗ Xuân Lập nhớ lại, đến khoảng 20 giờ ngày 24/1/1980, tức đêm thứ 6, đang căng thẳng quan sát mục tiêu, đột ngột từ trên đỉnh đồi phát ra 3 tiếng nổ liên hồi.

Vòng vây vẫn cẩn thận từng bước tiến. Kiên nhẫn đợi qua đêm, sáng ngày 25/1/1980, các lực lượng chức năng nhận lệnh “tấn công”, quyết không kéo dài thời gian thêm, thì bất ngờ Minh “bớt” xuất hiện, giơ tay từ trên núi đi xuống xin hàng.

Đại tá Nguyễn Thanh Hùng, nguyên Trưởng phòng Cảnh sát bảo vệ và Cơ động Công an TP. Đà Nẵng (nay đã nghỉ hưu) trực tiếp còng tay Minh, áp tải về trụ sở cơ quan điều tra để lấy cung.

Bị vây ráp nên giết đồng bọn

Vừa thấy Đại tá Hùng, Minh đáp tỉnh bơ: “Đừng lo, mấy người trên nớ em bắn chết sạch rồi”. Đúng như lời Minh, tiếp cận hiện trường, 3 đối tượng Dũng, Luyến, Lực đều đã tắt thở từ trước.

Tại đây, tang vật vụ án thu gồm 7 khẩu súng các loại, một số đạn, lương thực. Đại tá Hùng khi đó đã phải thốt lên: “Trong đời làm công an của tôi, chắc không thể có vụ nào mà mức độ tàn sát dã man như vậy”.

Trong vòng vây, sát nhân quay sang giết đồng bọn để...

Bà Bình bên mộ chồng, một nạn nhân của nhóm cướp đêm 19/1/1980.

Sau này ra tòa, mỗi lời khai của Minh đều được người dự khán, ông Lập, ông Hai, bà Bình, ông Dư… nhớ từng chữ, dù đã 35 năm trôi qua. Cũng như quá trình điều tra trước đó, Minh “bớt” đều cho rằng, nhóm mình nhìn thấy rõ “mồn một” từng chiến sĩ công an. Nhiều lần “mấy người kia” (ý nói 3 đồng bọn) định bắn tỉa xuống nhưng Minh cho rằng mình đã can ngăn. Minh còn cho biết: “Do mấy đứa kia xúi mới hành động như vậy thôi”.

Khi xét hỏi, “sao lại bắn đồng bọn?”, Minh chối tội: “Vì Dũng nghĩ ra chuyện viết truyền đơn rải. Chính nó chủ mưu xuống đánh ban chỉ huy tiền phương, sau đó xuống huyện để làm lớn chuyện, đánh đồn công an”. Do đó, Minh mới nảy ý định bắn chết các đồng phạm, để giữ mạng sống của mình?

Thực tế, sự việc diễn ra như sau. Do biết bị bao vây khó thoát, Minh bàn với Lực bắn chết Luyến và Dũng để xuống hàng, rồi đổ tội cho “tụi nó xúi”. Sau đó, Minh giết luôn cả Lực. Lúc đó thấy trời tối nên Minh không dám ra hàng vì sợ bị tiêu diệt, phải đợi đến sáng hôm sau.

Về động cơ gây án, Minh khai, từng thù hằn cán bộ từ trước, Minh mới thành lập băng nhóm đi cướp bóc, bắn giết cán bộ nhằm “thị uy”. Một số nạn nhân là người thân của cán bộ, Minh gây án trong trạng thái “hăng tiết” chứ không chủ đích tước mạng sống của họ.

Đại tá Nguyễn Thảnh và đại tá Nguyễn Thành Hùng cho biết, qua theo dõi thông tin về Minh, được biết, sau khi vào trại giam của Bộ Công an tại phía Nam, Minh đã cướp súng, bắt chết hai chiến sĩ công an rồi trốn trại. Chạy lên Tây Nguyên, Minh “bớt” giết thêm 1 người dân nữa. Như vậy, đối tượng này đã cướp đi tới 17 mạng người. Một thời gian sau, Minh bị bắt lại.

Ngày 17/7/1980, Nguyễn Minh bị đưa ra xét xử sơ thẩm với nhiều tội danh: “Bạo loạn, giết người, cướp tài sản xã hội chủ nghĩa, cướp tài sản công dân”. Dù Minh “bớt” khai do bị xúi giục, đổ tội cho những người đã chết, nhưng tòa nhận định: Hành vi tổ chức, cướp vũ khí, giết 11 người dân và cán bộ, giết thêm 3 đồng bọn để bịt đầu mối, chạy tội… đã rõ ràng, hết sức dã man.

Áp dụng các điều 7, 10, 11, 19 pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng và điều 3 pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân, tòa phạt Nguyễn Minh mức án tử hình. Minh kháng cáo. Ngày 29/10/1980, TAND tối cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm, y án tử hình đối với Nguyễn Minh.

Theo Trọng Anh

Tin Liên Quan
Hà Thị Bích Phương (Tổng hợp)
Nguồn: Nguoi dua tin
Bạn Có Thể Quan Tâm
Cùng chuyên mục